Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

SEO WEB

Khi mới vào NGHỀ mình tìm được bài viết này nó giúp mình rất nhiều, xin chia sẽ cùng bạn:

Tác giả: Anh Nguyễn (BabyWolf's blog)

Theo dõi thứ hạng (rank)

Bạn không thể nào biết được hiệu quả cho công việc SEO của mình nếu như bạn không thường xuyên theo dõi thứ hạng của mình. Có một số công cụ có thể giúp bạn theo dõi thứ hạng của mình một cách dễ dàng như Alexa, Google Toolbar,Google Webmasters Tools, Google Analytics. Đơn giản nhất là khi bạn xem thứ hạng của bạn trên Alexa, Alexa có thể sẽ cung cấp cho bạn thêm thông tin về các từ khóa mà người dùng hay vào website của bạn. Hoặc Google Webmasters Tools có thể cho bạn biết website của bạn có từ khóa nào đang nằm ở vị trí nào trên kết quả tìm kiếm. Hay Google Analytics có thể giúp bạn biết được lượng người truy cập vào web, từ nguồn nào, thời gian ở lại web bao lâu, các trang nào được xem nhiều nhất...

Từ khóa (keywords)

Bạn nên xác định từ khóa chủ đạo cho website của mình và đặt nó vào các vị trí quan trọng của website như: tiêu đề, nhấn mạnh trong nội dung, đường dẫn url, và tên hình ảnh. Thẻ title và các thẻ header là nơi đặt từ khóa tốt nhất cho website của bạn. Từ khóa chủ đạo tất nhiên sẽ liên quan đến lĩnh vực chính của bạn hoặc những từ mang ý nghĩa chủ lực cho nội dung website của bạn muốn hướng tới người dùng.

Thiết lập liên kết nội bộ (internal link)

Theo các chuyên gia tư vấn SEO, có lẽ không có chiến lược nào cơ bản hơn cho SEO bằng việc liên kết nội bộ, đây là cách đơn giản nhất mà bạn có thể đẩy lượng truy cập vào các trang mà bạn mong muốn và cũng là cách đẩy thứ hạng trên kết quả tìm kiếm một cách đơn giản nhất mà ngay cả những người viết nội dung vẫn có thể làm được thông qua các editor.
Bạn cần phải chuẩn hóa việc tạo liên kết nội bộ khi tạo những trang nội dung mới. Các chuyên gia khuyên rằng bạn nên liên kết (link) các trang nội dung tham khảo khác bằng chữ. Các từ trỏ đến một trang càng tương thích với nội dung trang đó cung cấp bao nhiêu sẽ giúp cho các trang web của bạn có thứ hạng tốt trên kết quả tìm kiếm khi người đọc tìm đến bạn thông qua các công cụ tìm kiếm đối với những từ khóa mà bạn tạo ra thông qua các liên kết nội bộ này. Tất cả các liên kết trong nội dung bài viết này là một ví dụ về liên kết nội bộ.
Hãy chắc chắn rằng các liên kết của bạn là tương thích, đồng thời bạn không nên gạch dưới các từ hay cụm từ được link vì sẽ gây khó chịu cho người đọc.

Tạo một sitemap

Sitemap (sơ đồ website) là một công việc cơ bản bạn cần thực hiện nhằm giúp cho các con bot (spider) tiếp cận các trang nội dung một cách dễ dàng hơn. Sitemap thường bao gồm các trang chính trong website của bạn. Bạn cần biết một điều là khi tiếp cận một trang nội dung với càng ít click thì sẽ càng tốt cho và dễ dàng hơn cho việc nội dung của bạn được đánh dấu chỉ mục bởi các công cụ tìm kiếm.

Tạo địa chỉ đường dẫn thân thiện (friendly url)

Các đường dẫn URL cần được tạo ra một cách thân thiện kèm theo từ khóa, từ khóa thường là tiêu đề của trang nội dung. URL thân thiện là URL mà bạn có thể dễ dàng đoán được hay chủ đề nội dung trước khi click vào xem nội dung của URL đó.
Ví dụ như www.vietsol.net/thiet-ke-website/website-tieu-bieu/ sẽ có thể được hiểu là trang web trình bày các website tiêu biểu thuộc dịch vụ thiết kế website của Công ty thiết kế website Viet Solution.
Cách đặt URL mà tôi vừa ví dụ có tính thân thiện hơn loại đường dẫn kiểuwww.vietsol.net/webdesign/111/, thông thường nếu bạn là người lập trình web thì có thể hiểu theo ngôn ngữ kỹ thuật rằng đây là trang nội dung có Id 111 thuộc module chức năng webdesign.
Tuy nhiên đối với người đọc thì nó hoàn toàn không thân thiện bởi vì nó không giúp người đọc hình dung được nội dung trước khi bấm vào xem. URL tệ nhất là dạng www.vietsol.net/index.php?act=webdesign&id=111, sở dĩ đây là dạng tệ nhất bởi vì ngoài khuyến điểm của ví dụ vừa nêu, nó còn chứa các ký tự đặc biệt làm cho các spider khó khăn hơn trong việc phân tích URL.
Cách thiết lập đường dẫn của bạn không chỉ ảnh hưởng đến spider của các bộ máy tìm kiếm mà còn kém sự thu hút đối với người đọc. Ví dụ về một trường hợp bạn sử dụng công cụ chat và giới thiệu đến danh sách bạn bè của mình về một nội dung bạn cần chia sẽ, cách thiết lập đường dẫn thứ nhất sẽ dễ dàng thu hút được bạn bè của bạn bấm vào để xem nội dung bởi vì họ có thể xác định được nội dung có cần đọc hay không trước khi bấm vào. Loại thứ hai và thứ ba rât dễ bị bỏ qua và thậm chí kiểu URL thứ ba đôi khi còn bị nghi là link có chứa virus.

Tránh việc sử dụng Flash

Flash có thể trình diễn các chức năng hình ảnh và chuyển động phức tạp, nhưng đối với các công cụ tìm kiếm thì hầu như nội dung trong Flash sẽ không được đánh giá cao. Bởi vì cấu trúc mã file của Flash khiến cho bot phải phân tích khó khăn hơn về nội dung của nó. Ở đây là chưa nói đến việc bạn không biết cách ứng dụng Flash cho SEO như thế nào. Nếu như bạn cần có những chuyển động không quá phức tạp thì việc ứng dụng javascript từ các mã javascript chia sẽ hiện nay cũng đủ giúp bạn thực hiện những chuyển động có thể thu hút được người đọc.
Ngoài ra, việc sử dụng frame hay ajax cũng sẽ làm cho bot khó tiếp cận với nội dung trong website của bạn. Tốt nhất là bạn nên hạn chế sử dụng càng nhiều càng tốt nhằm giúp cho website của bạn có thứ hạng cao trên các công cụ tìm kiếm.
Trong trường hợp bạn buộc phải dùng flash cho trang chủ thì những liên kết từ trang này bạn nên đặt bên ngoài flash.

Tạo mô tả cho hình ảnh (image description)

Các spider chỉ có thể đọc được chữ trong nội dung bài viết và không thể đọc được chữ trong hình của bạn. Nói tóm lại, khi bạn dùng chức năng view source của web browser, các chữ mà bạn nhìn thấy là những chữ mà bot có thể đọc được. Do đó để spider hiểu được hình ảnh của bạn cung cấp, bạn phải dùng thuộc tính ALT để mô tả cho hình ảnh. Và tất nhiên nếu bạn quan tâm đến việc SEO cho hình ảnh thì bạn cũng cần lựa chọn và xác định từ khóa thích hợp và khôn khéo khi tạo các mô tả cho hình ảnh.
Theo một số chuyên gia tư vấn SEO thì những chữ bên ngoài xung quanh hình cũng có thể được bot sử dụng làm nội dung cho hình ảnh. Do đó, việc tạo ra dòng chú thích bên cạnh hình cũng là điều cần thiết nếu như bạn quan tâm đến việc SEO cho hình ảnh. Ngoài ra, việc đưa các chữ trong ALT và chữ chú thích còn giúp cho bạn tận dụng việc thêm từ khóa cho trang nội dung của bạn.

Nội dung website (website content)

Nội dung website của bạn cần phải mới mẻ và thường xuyên cập nhật nhằm giữ lượng truy cập thường xuyên cho website của bạn. Nội dung website là một trong những điểm mấu chốt và là tiêu chí khá quan trọng để đánh giá xếp hạng cho trang web của bạn trên bộ máy tìm kiếm. Việc xây dựng nội dung phong phú hướng đến người dùng và tăng lượng truy cập cũng sẽ hỗ trợ cho việc gia tăng thứ hạng. Ngoài ra, việc cập nhật nội dung của bạn thường xuyên sẽ được bot ghé thăm thường xuyên hơn để cập nhật.
Thông thường các website giới thiệu doanh nghiệp hiếm khi có nội dung cần được cập nhật một cách thường xuyên. Do đó việc thêm chức năng tin tức hoặc chức năng tương tự để cung cấp thông tin cập nhật đến cho người dùng, hay bạn cũng có thể tạo blog trên hệ thống site bạn và cho nhân viên của mình hay các CEO viết blog trên đó cũng là cách để có nội dung cập nhật. Tùy theo nhu cầu cụ thể mà bạn cần chọn lựa giải pháp phù hợp cho các thông tin cập nhật. Ngoài ra các bài viết cập nhật này cũng giúp cho website của bạn khả năng tạo lượng liên kết nội bộ.

Phân phối nội dung thông qua các phương tiện truyền thông mạng xã hội (Social Media)

Việc tạo một trang blog trên website của bạn hay ở đâu đó trong các trang mạng xã hội cũng là một hình thức phân phối nội dung qua Social Media. Ngoài ra, tận dụng tối đa các mạng xã hội để chia sẽ những đường link đến các trang nội dụng của bạn sẽ làm cho website của bạn có thêm lượng truy cập từ mạng xã hội. Hiện nay, có khá nhiều các trang Social Media bạn có thể sử dụng như Facebook,Twitter, Digg, Wordpress, Blogger bạn có thể sử dụng để phân phối nội dung đến với người dùng Internet. Lượng truy cập cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thứ hạng của bạn trên kết quả tìm kiếm.

Liên kết với website khác (link to other sites)

Một trong những cách để tăng lượng truy cập vào website của bạn là thiết lập các trao đổi liên kết với các website khác. Đặc biệt, việc liên kết với các website đang được đánh giá cao, có thứ hạng tốt trên kết quả tìm kiếm hay các website có lượng truy cập tốt sẽ giúp cho website của bạn tăng thứ hạng trên kết quả tìm kiếm một cách dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, bạn không nên quá lạm dụng việc liên kết, việc lạm dụng sẽ bị xem là “link farm” và khiến cho website của bạn có thể bị phạt hoặc tụt hạng. Gần đây nhất, Google đã có những thay đổi về thuật toán để chống web content và link farm. Do đó, bạn cần phải thật sự cẩn thận hơn.

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

My love : Hạnh phúc với anh thật đơn giản ,đó là được bên em mỗi ngày ..

 














Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012

Giới thiệu mạng di động GSM





1 - Giới thiệu mạng di động GSM
 Định nghĩa GSM
GSM là viết tắt của từ " The Global System for Mobile Cpommunication" - Mạng thông tin di động toàn cầu.
- GSM là tiêu chuẩn chung cho các thuê bao di động di chuyển giữa các vị trí địa lý khác nhau mà vẫn giữ được liên lạc .
 
 Các mạng điện thoại GSM ở việt nam .
Ở Việt Nam và các nước trên Thế giới , mạng điện thoại GSM vẫn chiếm đa số, Việt Nam có 3 mạng điện thoại GSM đó là :
- Mạng Vinaphone : 091 => 094...
- Mạng Mobiphone : 090 => 093...
- Mạng Vietel 098...
 
 Công nghệ của mạng GSM
Các mạng điện thoại GSM sử dụng công nghệ TDMA - TDMA là viết tắt của từ " Time Division Multiple Access " - Phân chia các truy cập theo thời gian .
 
Giải thích : Đây là công nghệ cho phép 8 máy di động có thể sử dụng chung 1 kênh để đàm thoại , mỗi máy sẽ sử dụng 1/8 khe thời gian để truyền và nhận thông tin.
 Công nghệ CDMA .
Khác với công nghệ TDMA của các mạng GSM là công nghệ CDMA của các mạng như
- Mạng Sphone 095...
- Mạng EVN.Telecom 096...
- Mạng HTL 092...
- CDMA là viết tắt của " Code Division Multiple Access " -
Phân chia các truy cập theo mã .
Giải thích : Công nghệ CDMA sử dụng mã số cho mỗi cuộc gọi, và nó không sử dụng một kênh để đàm thoại như công nghệ TDMA mà sử dụng cả một phổ tần (nhiều kênh một lúc)
vì vậy công nghệ này có tốc độ truyền dẫn tín hiệu cao hơn công nghệ TDMA
 Cấu trúc cơ bản của mạng di động .
Mỗi mạng điện thoại di động có nhiều tổng đài chuyển mạch MSC ở các khu vực khác nhau ( Ví dụ như tổng đài miền Bắc, miền Trung, miền Nam) và mỗi Tổng đài lại có nhiều trạm thu phát vô tuyến BSS
Băng tần GSM 900 MHz .
- Nếu bạn sử dụng thuê bao mạng Vinaphone, Mobiphone hoặc Vietel là bạn đang sử dụng công nghệ GSM.
Công nghệ GSM được chia làm 3 băng tần
- Băng tần GSM 900MHz
- Băng tần GSM 1800MHz
- Và băng tần GSM 1900MHz
Tất cả các mạng điện thoại ở Việt Nam hiện đang phát ở băng tần 900MHz , các nước trên Thế giới sử dụng băng tần 1800MHz, Mỹ sử dụng băng tần 1900MHz .
 
 
Băng tần GSM 900MHz
 Với băng GSM 900MHz , Điện thoại di động thu ở dải sóng 935MHz đến 960MHz và phát ở dải sóng 890MHz đến 915MHz
 Khi điện thoại dd thu từ đài phát trên một tần số nào đó (trong giải 935MHz đến 960MHz) nó sẽ trừ đi 45MHz để lấy ra tần số phát, khoảng cách giữa tần số thu và phát của băng GSM 900 luôn luôn là 45MHz .
Tần số thu và phát của máy di động là do tổng đài điều khiển .
 
Băng tần GSM 1800 MHz .
 
 
 
Băng tần GSM 1800 MHz
 Ở băng 1800M, Điện thoại dđ thu ở dải sóng 1805MHz đến 1880MHz và phát ở dải sóng 1710MHz đến 1785MHz
 Khi điện thoại dd thu từ đài phát trên một tần số nào đó ( trong giải 1805MHz đến 1880MHz ) nó sẽ trừ đi 95MHz để lấy ra tần số phát , khoảng cách giữa tần số thu và phát của băng GSM 1800 là 95MHz .
 
 So sánh 2 băng tần .
 
Băng tần GSM 900MHz và băng tần GSM 1800MHz
 
 Tái sử dụng tần số .
 
 
 Toàn bộ dải tần phát cho mạng GSM 900M chỉ có từ 890MHz đến 915MHz tức là có 25MHz, mỗi kênh chiếm một khe tần số 200KHz => như vậy có khoảng 125 kênh thoại có thể sử dụng một lúc, mỗi kênh thoại được chia thành 8 khe thời gian trong đó 1/8 thời gian giành cho tín hiệu điều khiển, 7/8 khe thời gian còn lại dành cho 7 thuê bao và như vậy tổng số thuê bao có thể liên lạc trong một thời điểm là 125 x 7 = 875.
 
 875 thuê bao có thể liên lạc đồng thời trong một thời điểm cho một mạng di động, đây là con số quá ít không đáp ứng được nhu cầu sử dụng, vì vậy tái sử dụng tần số là phương pháp làm tăng số thuê bao di động có thể liên lạc trong một thời điểm lên tới con số hàng triệu .
 
 Phương pháp tái sử dụng tần số .
- Người ta chia một Thành phố ra thành nhiêu ô hình lục giác => gọi là Cell , mỗi ô có một trạm BTS để thu phát tín hiệu, các ô không liền nhau có thể phát chung một tần số ( như hình dưới thì các ô có cùng mầu xanh hay mầu vàng có thể phát chung tần số )
- Với phương pháp trên người ta có thể chia toàn bộ giải tần ra làm 3 để phát trên các ô không liền kề như 3 mầu dưới đây, và như vậy mỗi ô có thể phục vụ cho 875 / 3 = khoảng 290 thuê bao .
- Trong một Thành phố có thể có hàng trăm trạm thu phát BTS vì vậy nó có thể phục vụ được hàng chục ngàn thuê bao có thể liên lạc trong cùng một thời điểm .
 
Thành phố được chia thành nhiều ô hình lục giác, mỗi ô được đặt một trạm thu phát BTS .
 
 Phát tín hiệu trong mỗi ô
Tín hiệu trong mỗi ô được phát theo một trong hai phương pháp
- Phát đẳng hướng
- Phát có hướng theo góc 120o
 
 
 
 
2 - Các thành phần của mạng di động
 
 
 
 Mạng Điện thoại di động GSM
 
 
 
 
 
 Máy cầm tay MS ( Mobile Station )
Trong mỗi máy di động cầm tay khi liên lạc, nhà quản lý điều hành mạng sẽ quản lý theo hai mã số .
- Số SIM đây là mã nhận dạng di động thuê bao Quốc tế, dựa vào mã số này mà nhà quản lý có thể quản lý được các cuộc gọi cũng như các dịch vụ gia tăng khác .
- Số IMEI đây là số nhận dạng di động Quốc tế, số này được nạp vào bộ nhớ ROM khi điện thoại được xuất xưởng, mỗi máy điện thoại có một số IMEI duy nhất, ở các nước trên thế giới - số IMEI được các nhà cung cấp dịch vụ quản lý, vì vậy ở nước ngoài nếu một điện thoại di động bị đánh cắp thì chúng cũng thể sử dụng được
- Với các công nghệ tiên tiến ngày nay, nếu bạn bật máy điện thoại lên, người ta có thể biết bạn đang đứng ở đâu chính xác tới phạm vi 10m2 đó là công nghệ định vị toàn cầu .
 
 Ý nghĩa số IMEI
 
 
 
 Ý nghĩa số SIM
 
 
Số thuê bao IMSI
 
 
 
 
 Hệ thống tổng đài
 
 
Các giao diện vô tuyến
 Kênh vật lý và kênh Logic
Kênh vật lý là kênh tần số dùng để truyền tải thông tin. Ví dụ: Kênh tần số 890MHz là kênh vật lý. Kênh logic là kênh do kênh vật lý chia tách. Trong GSM, một kênh vật lý được chia ra làm 8 kênh logic. Một kênh Logic chiếm 1/8 khe thời gian của kênh vật lý. Kênh vật lý là kênh có tần số xác định, có dải thông 200KHz
 
 
Một kênh Logic chiếm 1/8 khe thời gian của kênh vật lý
Kênh vật lý là kênh có tần số xác định, có dải thông 200KHz
 Kênh đàm thoại .
Lưu lượng kênh đàm thoại sẽ được truyền đi trên các kênh Logic, mỗi kênh vật lý có thể hỗ trợ 7 kênh đàm thoại và một kênh điều khiển .
 Kênh điều khiển
Mỗi kênh vật lý sử dụng 1/8 thời gian làm kênh điều khiển, kênh điều khiển sẽ gửi từ Đài phát đến máy thu các thông tin điều khiển của tổng đài .
 
 
3 - Các công nghệ vô tuyến
 
 
 
Các kỹ thuật điều chế tín hiệu .
 
 
 Kỹ thuật điều biên :
 
 
Kỹ thuật điều biên làm thay đổi biên độ tín hiệu theo tín hiệu số
 
 
 Kỹ thuật điều tần .
 
 
Kỹ thuật điều tần làm thay đổi tần số tín hiệu theo tín hiệu số
 
 
 Kỹ thuật điều pha
 
 
Kỹ thuật điều pha làm thay đổi pha tín hiệu theo tín hiệu số Công nghệ di động sử dụng kỹ thuật điều pha, đây là kỹ thuật thường được sử dụng cho mạch điều chế số .
 
 Điều khiển công suất phát của máy di động .
Vì sao phải điều khiển công suất phát của máy di động ? => Để giảm công suất phát của máy di động khi không cần thiết để tiết kiệm năng lượng tiêu thụ cho pin .
=> Giảm được nhiễu cho các kênh tần số lân cận
=> Giảm ảnh hưởng sức khoẻ cho người sử dụng .
 Khi ta bật nguồn Mobile, kênh thu sẽ thu tín hiệu quảng bá của đài phát, tín hiệu thu được đối chiếu với dữ liệu trong bộ nhớ SIM để Mobile có thể nhận ra mạng chủ của mình, sau đó Mobile sẽ phát tín hiệu điều khiển về đài phát (khoảng 3-4 giây), tín hiệu được thu qua các trạm BTS và được truyền về tổng đài MSC, tổng đài sẽ ghi lại vị trí của Mobile vào trong
Data Base.
 Sau khi phát tín hiệu điều khiển về tổng đài, Mobile của bạn sẽ chuyển sang chế độ nghỉ (không phát tín hiệu) và sau khoảng 15 phút nó mới phát tín hiệu điều khiển về tổng đài 1 lần .
 Thu tín hiệu ngắt quãng
Đài phát phát đi các tín hiệu quảng bá nhưng tín hiệu này cũng phát xen kẽ với các khoảng thời gian rỗi và thời gian phát tin nhắn .
 Khi không có cuộc gọi thì điện thoại sẽ thu được tín hiệu ngắt quãng đủ cho điện thoại giữ được sự liên lạc với tổng đài .
 Khi thuê bao di chuyển giữa các ô ( Cell )
Khi bạn đứng trong Cell thứ nhất, bạn bật máy và tổng đài thu được tín hiệu trả lời tự động từ điện thoại của bạn => tổng đài sẽ lưu vị trí của bạn trong Data Base. Khi bạn di chuyển sang một Cell khác, nhờ tín hiệu thu từ
kênh quảng bá mà điện thoại của bạn hiểu rằng tín hiệu thu từ trạm BTS thứ nhất đang yếu dần và có một tín hiệu thu từ một trạm BTS khác đang mạnh dần lên, đến một thời điểm nhất định, điện thoại của bạn sẽ tự động phát tín hiệu điều khiển về đài phát để tổng đài ghi lại vị trí mới của bạn. Khi có một ai đó cầm máy gọi cho bạn, ban đầu nó sẽ phát đi một yêu cầu kết nối đến tổng đài, tổng đài sẽ tìm dấu vết thuê bao của bạn trong cơ sở dữ liệu, nếu tìm thấy nó sẽ cho kết nối đến trạm BTS mà bạn đang đứng để phát tín hiệu tìm thuê bao của bạn . Khi tổng đài nhận được tín hiệu trả lời sẵn sàng kết nối ( do máy của bạn phát lại tự động ) tổng đài sẽ điều khiển các trạm. BTS tìm kênh còn rỗi để thiết lập cuộc gọi => lúc này máy của bạn mới có rung và chuông.
                                                                               

   

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Wildcard Mask - Cách chia Wildcard Mask

1. Giới thiệu về Wildcard Mask


Wildcard mask gồm 32 bit, chia thành 4 octet, mỗi octet có 8 bit. Nó xác định bit nào trong địa chỉ IP sẽ được bỏ qua khi so sánh địa chỉ đó với địa chỉ khác. Bit ‘1’ trong wildcard mask có nghĩa là bỏ qua vị trí bit đó khi so sánh, và bit ‘0’ xác định vị trí bit phải giống nhau. Với standard access list, nếu không thêm wildcard-mask trong câu lệnh tạo access-list thì mặc định wildcard-mask sẽ là 0.0.0.0 2. Cách tính Wilcard Mask
(Mình sẽ trình bày kĩ hơn và giới thiệu sau) (2h15' Ngày 21 - 10 - 2011 Vẫn đang ngáp ngủ ^^) - Trước hết mình sẽ chuyển số ở Octet có sự thay đổi dưới dạng nhị phân

Trình bày lý thuyết hơi khó hiểu ( ^ ^ văn mình yếu ) nên mình đi vào vài ví dụ cụ thể Ví dụ: Mình muốn chia wildcard mask của dãy địa chỉ 192.168.1.3 -> 192.168.1.10
- Octet thứ 4 (tính từ trái sang) có sự thay đổi nên ta theo dõi Octet đó qua dạng nhị phân

Lấy địa chỉ xét là địa chỉ có số sau bit 1 (sau cùng) đều là bit 0 hết Vùng địa chỉ WCM ta sẽ chia được trong ví trên như sau:

Đấy là cách thủ công (nguyên tắc) mà lúc chúng ta học chắc ai cũng được giới thiệu rồi. Tuy nhiên nếu chúng ta xét tới 1 dãy địa chỉ IP mà có tới hàng trăm địa chỉ thì chúng ta sẽ làm như thế nào cho nhanh + Chính xác. Điều này cần bạn phải nắm cơ bản về số nhị phân 8 bit và hiểu rõ về bài ví dụ trên. ^^ Ví dụ: Tính WCM của dãy địa chỉ 192.168.1.20 -> 182.168.1.150 Cũng theo nguyên tắc trên (mình cũng trình bày dưới dạng hình vẽ). Mính muốn lấy ví dụ với dãy này vì muốn 1 lần nữa các bạn xem lại tương tự ví dụ trên
Khi các bit sau bit 1 enable 1 hết thì bắt đầu xét qua địa chỉ mạng khác.
Cứ làm như thế. Khi các bạn chia quen + nhah rồi thì có thể làm mà ko cần viết tới số nhị phân ^ ^ Các số mà địa chỉ WCM quản lý chúng được tính như thế nào ?
Ví dụ ở đây là số 0.0.0.7 đi (thủ công thì theo như hình vẽ).
Nhanh chóng các bạn lấy số địa chỉ của dãy say trừ đi số địa chỉ của dãy trước trừ 1 Ví dụ trên là: 32-24-1=7
Chú ý: Sự thay đổi ở 2 Octet cũng chia tương tự
Ví dụ: Chia WCM cho dãy địa chỉ: 10.10.5.27 đến 10.10.9.137
- Ta chỉ ở Octet thứ 3 trước : 5 đến 9 Được kết quả:
10.10.5.0     0.0.0.0
10.10.6.0    0.0.1.0
10.10.8.0    0.0.1.0

Tiếp theochia ở Octet thứ 4: (Làm như ví dụ trên)
=> Kết hợp ở cả 2 Octet cho kết quả:
            10.10.5.27            0. 0. 0. 0
            …………………………..
            10.10.5.136           0.0.0.1
           10.10.6.27           0.0.1.0
            ……………………….
             10.10.6.136        0.0.1.1
           .........................................
                       
Bài viết còn sơ khai và viết theo dạng tự do (hiểu như thế nào viết thế) nên rất mong nhận xét của các bạn. Nếu bạn nào có ví dụ chưa hiểu thì mình có thể trao đổi (gửi qua nhận xét – góp ý)
Chúc các bạn học tập tốt !

CÁC BÀI TOÁN TÍNH WILDCARD MASK



1. WILDCARD MASK MATCH 1 HOST
Vd: Tính wildcard mask match host 192.168.1.1
Theo nguyên tắc: bit 0 kiểm tra – bit 1 bỏ qua
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.1 0.0.0.0 hoặc từ khóa “host”

2. WILDCARD MASK MATCH TẤT CẢ ĐỊA CHỈ IP
Vd: Tính wildcard mask match tất cả địa chỉ IP
Theo nguyên tắc: bit 0 kiểm tra – bit 1 bỏ qua
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.1 255.255.255.255 hoặc từ khóa “any”
3. WILDCARD MASK MATCH 1 SUBNET
Vd: Tính wildcard mask match subnet 192.168.1.0/24
Cách tính: Lấy 255.255.255.255 trừ đi subnet mask của subnet
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.1 0.0.0.255
4. TÍNH WILDCARD MASK MATCH RANGE ĐỊA CHỈ IP LIÊN TỤC
Vd: Tính wildcard mask match range từ 192.168.2.0 đến 192.168.4.255
Cách tính: Lấy địa chỉ cuối trừ địa chỉ đầu
-> Địa chỉ IP: 192.168.2.0 0.0.2.255
5. TÍNH WILDCARD MASK MATCH MỘT SỐ IP ADDRESS ĐẦU TIÊN
Vd: Cho địa chỉ IP 192.168.1.0, tính wildcard mask match X host đầu tiên
-> Dải địa chỉ cần match: 192.168.1.0 – > 192.168.1.X
-> wildcard mask: 0.0.0.X (lấy địa chỉ cuối trừ địa chỉ đầu)
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.0 0.0.0.X
6. TÍNH WILDCARD MASK MATCH CỦA NỮA DẢI IP TRÊN HOẶC NỬA DẢI IP DƯỚI
Vd: Cho địa chỉ IP 192.168.1.0, tính wildcard mask match nửa dải IP phía trên và dưới:
-> Dải địa chỉ nửa trên: 192.168.1.0 – > 192.168.1.127
-> wildcard mask: 0.0.0.127 (lấy địa chỉ cuối trừ địa chỉ đầu)
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.0 0.0.0.127
-> Dải địa chỉ nửa dưới: 192.168.1.128 – > 192.168.1.255
-> wildcard mask: 0.0.0.127 (lấy địa chỉ cuối trừ địa chỉ đầu)
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.128 0.0.0.127
7. TÍNH WILDCARD MASK MATCH IP LẺ, HOẶC IP CHẴN
Một địa chỉ Ip lẻ / chẳn là địa chỉ có octet cuối cùng dạng thập phân là số lẻ / chẳn
Vd:     IP lẻ – 192.168.1.1
IP chẵn – 192.168.1.2
Nhận xét: bit cuối cùng của IP lẻ luôn là bit 1, bit cuối cùng của IP chẵn luôn là bit 0. Vậy wildcard mask thỏa mãn phải tạo ra một dải địa chỉ IP có bit cuối của octet cuối không đổi bằng 0 hoặc 1.
Giải pháp: để router luôn match bit cuối của octet cuối của địa chỉ IP, bit tương ứng trên wildcard mask phải là bit 0
Vd1: Cho địa chỉ IP: 192.168.1.0, tính wildcard mask match tất cả IP chẵn:
-> wildcard mask: 0.0.0.254 (dạng nhị phân: 00000000.00000000.00000000.11111110)
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.0 0.0.0.254 (IP chẵn có bit cuối luôn bằng 0)
Vd2: Cho địa chỉ IP: 192.168.1.0, tính wildcard mask match tất cả IP lẻ
-> wildcard mask: 0.0.0.254 (dạng nhị phân: 00000000.00000000.00000000.11111110)
-> Địa chỉ IP: 192.168.1.1 0.0.0.254 (IP lẻ có bit cuối luôn bằng 1)
8. TÍNH WILDCARD MASK MATCH 1 RANGE IP ADDRESS KHÔNG LIÊN TỤC
Đây là dạng toán tính wildcard mask phức tạp nhất vì admin không có cách nào sử dụng 1 wildcard mask để tạo thành địa chỉ IP match tất cả dải IP ban đầu:
Vd: Tính wildcard mask match dải: 192.168.1.15 – > 192.168.1.75
Nhận xét: Đây là một dải IP không liên tục , không có 1 wildcard mask nào có thể thỏa mãn dải không liên tục. Tuy nhiên đối với những dải IP liên tục thì luôn có wildcard mask thỏa mãn.
Giải pháp: Chia dải IP ban đầu thành những dải nhỏ mà trong đó luôn tìm được 1 wildcard mask thỏa mãn mỗi dải. Vậy cách chia như thế nào? Nhắc lại: mỗi bit trong octet phần host đại diện cho một nhóm các host gọi là một block size. Bit cuối cùng là block size 1 vì nó thể hiện 1 host, tương tự bit đầu tiên là block size 128. Và, mỗi block size luôn tìm được 1 wildcard mask thỏa mãn.
Chia dải thành các block size:
- 192.168.1.15 (1)
- 192.168.1.16 – > 192.168.1.31 (2)
- 192.168.1.32 – > 192.168.1.63 (3)
- 192.168.1.64 -> 192.168.75 (4)
Tính wildcard mask cho mỗi block size:
- (1): 192.168.1.15 0.0.0.0 – > IP host
- (2): 192.168.1.16 0.0.0.15
- (3): 192.168.1.32 0.0.0.31
- (4): Chưa có wildcard mask phù hợp, ta phân tích dạng nhị phân octet cuối để tách tiếp wildcard mask:
.64: 01000000
.75: 01001011
-> Ta tách thành: 01000000 -> 01000111 (5)
01001000 -> 01001011 (6)
-> (5): 192.168.1.64 0.0.0.7
(6): 192.168.1.72 0.0.0.3
Tổng kết: Như vậy, từ dải IP ban đầu, ta tách thành 6 dải nhỏ (1)(2)(3)(4)(5)(6). Quả thật là một công trình “vĩ đại”…

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Mạng thông tin di động CDMA

Công nghệ CDMA

CDMA (viết đầy đủ là Code Division Multiple Access) nghĩa là đa truy nhập (đa người dùng) phân chia theo mã. Khác với GSM phân phối tần số thành những kênh nhỏ, rồi chia sẻ thời gian các kênh ấy cho người sử dụng. Trong khi đó thuê bao của mạng di động CDMA chia sẻ cùng một giải tần chung. Mọi khách hàng có thể nói đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng một giải tần. Các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên. Các tín hiệu của nhiều thuê bao khác nhau sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộn lẫn và phát đi trên cùng một giải tần chung và chỉ được phục hồi duy nhất ở thiết bị thuê bao (máy điện thoại di động) với mã ngẫu nhiên tương ứng. Áp dụng lý thuyết truyền thông trải phổ, CDMA đưa ra hàng loạt các ưu điểm. Cụ thể:

  • Công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA (GSM) là công nghệ truyền sóng kỹ thuật số, cho phép một số người dùng truy nhập vào cùng một kênh tần số mà không bị kẹt bằng cách định vị những rãnh thời gian duy nhất cho mỗi người dùng trong mỗi kênh (Và đây là lý do khi có quá nhiều thuê bao cùng sử dụng thì hệ thống bị treo). Công nghệ này đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu ít tốn kém hơn CDMA. Còn công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã CDMA là công nghệ trải phổ cho phép nhiều tần số được sử dụng đồng thời; mã hóa từng gói tín hiệu số bằng một mã khóa duy nhất và gửi đi. Bộ nhận CDMA chỉ biết nhận và giải mã (đây là lý do công nghệ này có tính bảo mật tín hiệu cao hơn TDMA (GSM), chất lượng cuộc gọi cũng tốt hơn, âm thanh trung thực do việc mã hóa tín hiệu và giải mã do chính thiết bị đầu cuối thực hiện bằng mã (ESN) của mình). Theo các chuyên gia, xét ở góc độ bảo mật thông tin, CDMA có tính năng ưu việt hơn.
  • Nhờ hệ thống kích hoạt thoại, hiệu suất tái sử dụng tần số trải phổ cao và điều khiển năng lượng, nên nó cho phép quản lý số lượng thuê bao cao gấp 5-20 lần so với công nghệ GSM. Áp dụng kỹ thuật mã hóa thoại mới, CDMA nâng chất lượng thoại lên gần bằng với hệ thống điện thoại hữu tuyến.
  • Đối với điện thoại di động, để đảm bảo tính di động, các trạm phát phải được đặt rải rác khắp nơi. Mỗi trạm sẽ phủ sóng một vùng nhất định và chịu trách nhiệm với các thuê bao trong vùng đó. Với CDMA, ở vùng chuyển giao, thuê bao có thể liên lạc với 2 hoặc 3 trạm thu phát cùng một lúc, do đó cuộc gọi không bị ngắt quãng, làm giảm đáng kể xác suất rớt cuộc gọi.
  • Một ưu điểm khác nữa của CDMA là nhờ sử dụng các thuật toán điều khiển nhanh và chính xác, thuê bao chỉ phát ở mức công suất vừa đủ để đảm bảo chất lượng tín hiệu, giúp tăng tuổi thọ của pin, thời gian chờ và đàm thoại. Máy điện thoại di động CDMA cũng có thể sử dụng pin nhỏ hơn, nên trọng lượng máy nhẹ, kích thước gọn và dễ sử dụng.
  • Với cùng 1 công nghệ tương đương, CDMA luôn vượt trội hơn TDMA, cả về chất lượng cuộc gọi, tính bảo mật, tốc độ băng thông.
  • Cuối cùng, những máy điện thoại di động đang sử dụng chuẩn GSM hiện nay không thể sử dụng chuẩn CDMA. Nếu tiếp tục phát triển GSM, hệ thống thông tin di động này sẽ bắt buộc phải phát triển lên WCDMA-UMTS-3G mới đáp ứng được nhu cầu truy cập di động các loại thông tin từ mạng Internet với tốc độ cao.



2/ Lịch sử phát triển của công nghệ CDMA trên thế giới:

Lịch sử phát triển CDMA được bắt đầu bằng sự ra đời của lý thuyết truyền thông trải phổ trong thập niên 50, thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II đang hồi cao trào (Hơi lạ phải ko?). Lúc này Mỹ đang chạy đua vũ trang với Liên Xô và Đức, hãng nhiệm vụ đặt ra là một quả ngư lôi thông minh hơn, đc điều khiển ngay cả khi đã ra khỏi tàu ngầm, ko bị nhiểu tín hiệu do tàu địch gây ra (RADIO là chuẩn chung thời đó mà)! Và truyền tín hiệu trải phổ ra đời! Hài hước là Hoa Kỳ đã ngay lập tức loại bỏ ý tưởng này!
Nhưng với hàng loạt các ưu điểm đi kèm, truyền thông trải phổ được ứng dụng trong thông tin quân sự Hoa Kỳ trong những năm sau đó (Lockheed Martin US-đã phát triển rất nhiều loại bộ đàm, điện thoại vô tuyến liên lạc trên mặt đất, tên lửa, ngư lôi, hệ thống định vị mặt đât,......). Đến thập niên 80, CDMA được phép thương mại hóa và chính thức được đề xuất bởi Qualcomm, một trong những công ty hàng đầu về công nghệ truyền thông.

Năm 1995, CDMA IS-95A là phiên bản đầu tiên được triển khai thương mại tại Hồng Kông qua Hutchison Telecom và phiên bản có tốc độ truyền 14kbit/giây này được thừa nhận như một trong những hệ thống thuộc thế hệ thứ 2(2G).

Năm 1996 CDMA bắt đầu thống trị trên thị trường Bắc Mỹ.

Năm 1997, IS - 95B được đưa ra với nhiều cải tiến về chất lượng đồng thời tốc độ truyền đến 64 kbit/giây. Đây là thế hệ di động thứ 2,5. Cùng năm này, số thuê bao CDMA trên toàn thế giới vào xấp xỉ 18 triệu thuê bao.

Năm 1998, CDMA 2000 1x hỗ trợ cả thoại và dữ liệu được đưa vào dự thảo IMT2000 (International Mobile Telecommunication 2000 - Đề án Truyền thông Di động Quốc tế 2000) do ITU (International Telecommunication Union - Liên minh Viễn thông Quốc tế) soạn thảo định nghĩa cho tiêu chuẩn truyền thông thế hệ thứ 3 (3G). Thuê bao CDMA lên đến 24 triệu người trên toàn thế giới.

Năm 1999, CDMA 2000 1x được công nhận là 3G và chính thức được công bố. Cuối năm 1999, thế giới đã có hơn 50 triệu thuê bao CDMA.

Năm 2000, 2 nhà khai thác hàng đầu tại Hàn Quốc là SK Telecom và LG Telecom triển khai thương mại hệ thống CDMA 2000 1x đầu tiên trên thế giới. Thế giới có 80 triệu thuê bao CDMA.

Năm 2001, CDMA 2000 1x EV trở thành một chuẩn của 3G.Chỉ trong 3 tháng, từ tháng 6 đến tháng 9/2002: từ 127 triệu thuê bao, CDMA đã vượt qua con số 134 triệu thuê bao.

2002, SFone chính thức cung cấp 1xEV.

2007, chuẩn Wimax 4G lần đầu đc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, với tốc độ cực khủng! nhận dữ liệu với tốc độ 100 Megabyte/giây khi di chuyển và tới 1 Gb/giây khi đứng yên!!  

2009, Nga thử nghiệm 4G đến người dùng (máy HTC )

2010, NTT DoCoMo chính thức ra mắt 4G!


CDMA là công nghệ mạng di động thế hệ 2G, tồn tại cùng với GSM ở Việt Nam. CDMA thực ra là một công nghệ có nhiều ưu điểm, cho tốc độ cao hơn GSM và theo mình đánh giá là tốt hơn GSM tuy nhiên các nhà mạng CDMA của việt nam thì lại thất bại thảm hại (EVN bị sát nhập viettel, Ht mobile đổi tên sang việt nam mobile rồi đổi luôn công nghệ sang GSM, còn mỗi sfone sống lay lắt...) so với GSM, và là đề tài nóng hổi được nhiều người quan tâm, một số người cho rằng công nghệ GSM tốt hơn nên chiến thắng nhưng thực ra là không phải vậy, bản thân thì bố mẹ mình là người điện lực và bố mình làm bên EVN nên cũng có nghe nói lại 1 phần thông tin hôm nay chia sẻ lại :

  • EVN sử dụng phổ tần can nhiễu 450 MHz (nghe thày bình nói) và nói thực là "chả giống ai", tuy nhiên thấy vẫn nghe gọi được bình thường nên ở mức độ người dùng thì cũng chẳng ảnh hưởng lắm.
  • EVN đi đầu trong lĩnh vực cố định không dây, khởi đầu có lẽ là một nước đi đúng đắn và nghe nói lại là phát triển được 2 triệu máy.
  • Tuy nhiên cái dở nhất của EVN là thiết bị đầu cuối, thiết bị đắt, có 1 số chương trình cho máy nhưng hình như rất ít được quảng cáo hoặc chỉ người điện lực biết với nhau, khó thay thế sửa chữa, khó mua sim thẻ (ít nơi bán).
  • Trước evn hình như đi đầu tiên trong lĩnh vực internet từ điện thoại và bản thân đã dùng internet dial up của cố định không dây (115kbps) mấy tháng liền (nhưng sau ham hố xài nhiều quá mà hơn 4k 1 giờ nên gia đình đành lắp adsl, sau đó còn dùng toàn gần sát trần nên lại phải đổi sang dùng trọn gói luôn, he he). Nhưng chỉ chạy duy nhất trên win xp sp2 (sp3 vào tắt điện luôn), cài đặt rườm rà, cáp cũng độc quyền khó mua.
  • Làm ăn nhà nước kiểu quan liêu, lương bổng đãi ngộ không thu hút được nhân tài, nghe nói có mấy anh viễn thông thi vào xong làm một vài tháng rồi bỏ, cả phòng viễn thông điện lực không có ai chính quy viễn thông ra trường (chính quy bỏ hết mà) và chắc nghiệp vụ nhân viên cũng thế.
  • Triển khai cơ sở hạ tầng tốn kém hơn
Nói chung là evn, à nhầm CDMA là công nghệ mạnh, lên 3g cũng dùng W-CDMA, các bạn nên chú ý tránh nhầm lẫn quy kết.
Có thêm bài viết Cuộc đua giữa GSM và CDMA cho bạn nào máu đọc này.
NAT và cách thiết lập NAT server


Khái quát về NAT
NAT hay còn gọi là Network Address Translation là một kỉ thuật được phát minh lúc khởi đầu dùng để giải quyết vấn đề IP shortage, nhưng dần dần nó chứng tỏ nhiều ưu điểm mà lúc phát minh ra nó người ta không nghĩ tới, một trong những lợi điểm của NAT ngày nay được ứng dụng nhiều nhất là NAT cho phép
  1. Chia sẽ kết nối internet với nhiều máy bên trong LAN với một địa chỉ IP của WAN

    Một lợi điểm nữa của NAT là nó có thể làm việc như một
     
  2. Firewall, nó giúp dấu tất cả IP bên trong LAN với thế giới bên ngoài, tránh sự dòm ngó của hackers.
  3. Tính linh hoạt và sự dễ dàng trong việc quản lý
NAT giúp cho các home user và các doanh nghiệp nhỏ có thể tạo kết nối với internet một cách dễ dàng và hiệu quả cũng như giúp tiết kiệm vốn đầu tư.
NAT cũng có nhiều loại hay hình thức khác nhau, chúng ta sẽ nói sơ lược qua các dạng NAT
Static NAT
Với static NAT thì sự chuyển đổi packet giữa hai network, giữa nguồn và địa chỉ đến trở nên đơn giản và nhất định, các điều kiện về trạng thái kết nối không cần phải giử lại.  Nó chỉ cần nhìn vào mỗi IP packet khi chuyển đổi, các thông tin về mapping đều không cần thiết.  Static NAT sử dụng khi số lượng IP trong LAN bằng số lượng NAT-IP.
Các bạn có thể tham khảo hình sau đây về cấu hình static NAT.
Dynamic NAT
Dynamic NAT khác với static là các địa chỉ host IP được thay đổi liên tục mỗi lần tạo kết nối ra ngoài các host này sẽ nhận được một địa chỉ NAT-IP và mỗi lần như vậy NAT sẽ giữ lại thông tin IP của host này trong NAT Table của nó và cứ như thế.  Tuy nhiên cái bất lợi của dynamic NAT là khi NAT-IP được cung cấp hết do cùng một lúc có nhiều host rong LAN gởi yêu cầu thì lập tức sẽ không còn bất kì một kết nối nào được chuyển dịch nữa qua NAT vì NAT-IP đã được cấp phát hết và như vậy nó phải đợi tới lần kết nối sau.
Các bạn có thể tham khảo hình sau đây để có thể hiểu cách làm việc của Dynamic NAT
  • NAT rule: Dynamic translate tất cả IP thuộc class B 138.201 đến một địa chỉ thuộc class C 178.201
  • Mỗi một kết nối từ bên trong muốn ra ngoài sẽ được NAT cung cấp một địa chỉ trong số lượng IP sẳn có của NAT, nếu các NAT-IP này được cấp phát hết thì các connection từ class B sẽ không thể ra ngoài được nữa.
NAT ngụy trang hay giả lập (Masquerading)
Đây là dạng NAT phổ thông mà chúng ta thường gặp và sử dụng ngày nay trong các thiết bị phần cứng hay phần mềm routing như router hay các phần mềm chia sẽ internet như ISA, ICS hay NAT server mà lát nữa đây chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu cách thiết lập nó.
Dạng NAT này hay còn được gọi với một cái tên NPAT (Network Port Address Translation), với dạng NAT này tất cả các IP trong mạng LAN được dấu dưới một địa chỉ NAT-IP, các kết nối ra bên ngoài đều được tạo ra giả tạo tại NAT trước khi nó đến được địa chỉ internet.
Các bạn có thể tham khảo hình dưới đây để tìm hiểu cách làm việc của NAPT
  • NAT rule: Giả trang internet IP address 138.201 sử dụng địa chỉ NAT router
  • Cho mỗi packets được gởi ra ngoài IP nguồn sẽ được thay thế bằng NAT-IP là 195.112 và port nguồn được thay thế bằng một cổng nào đó chưa được dùng ở NAT, thông thường là các cổng lớn hơn 1204.
  • Nếu một packet được gởi đến địa chỉ của router và port của destination nằm trong khoảng port dùng để masquerading thì NAT sẽ kiểm tra địa chỉ IP này và port với masquerading table của NAT nếu là gởi cho một host bên trong LAN thì gói tin này sẽ được NAT gắn vào địa chỉ IP và port của host đó và sẽ chuyển nó đến host đó.
Hy vọng những gì được đưa ra ở trên, phần nào giúp bạn có chút kiến thức căn bản về NAT để bước tiếp theo sau chúng ta sẽ làm quen với cấu hình của NAT server.